Sở Tài chính Sơn La: Giá nước tại Sơn La tính đúng, tính đủ

(Xây dựng) – Theo Sở Tài chính Sơn La, từ 01/7/2016 tỉnh này đã tăng giá nước 7%. Việc điều chỉnh này chỉ dựa trên sự biến động của yếu tố duy nhất là cơ chế chính sách, nhằm đảm bảo tính đúng, tính đủ và duy trì bộ máy hoạt động của ngành nước.

Chỉ bằng 75% so với mức giá tối đa

Cụ thể, thực hiện Nghị định số 122 năm 2015 của Chính phủ, từ ngày 01/01/2016 mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh tăng từ 2,4 triệu đ/tháng lên 2,7 triệu đ/tháng. Vì vậy, khi lương tăng thì các khoản bảo hiểm trích theo lương cũng tăng, bên cạnh đó Luật Bảo hiểm xã hội số 58 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016, cũng có sự điều chỉnh tăng: BHXH 26%, BHYT 4,5%, BHTN 2%, KPCĐ 2%, tổng tăng 34,5%.

Mặt khác, Sơn La là một tỉnh còn gặp nhiều khó khăn về ngân sách, chưa thể có điều kiện để bù đắp cho các yếu tố cấu thành lên giá nước nếu như giá các yếu tố này có sự biến động. Do đó, một khi giá các yếu tố cấu thành lên giá nước được điều chỉnh, thì việc điều chỉnh giá nước là tất yếu. Tuy nhiên, UBND tỉnh Sơn La cũng như các ngành chức năng liên quan hết sức thận trọng trong vấn đề này. Việc điều chỉnh giá nước phải đảm bảo phù hợp với thông lệ của nhiều tỉnh thành trong cả nước, đồng thời cũng phải đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành của Nhà nước.

Theo Sở Tài chính Sơn La, giá nước của năm 2016 được điều chỉnh tăng 7%, nằm trong khung giá theo quy định tại Thông tư số 88 năm 2012 của Bộ Tài chính, quy định mức tối đa đối với đô thị loại I, II, III, IV và V là 15.000 đ/m3. Như vậy, giá nước năm 2016 chỉ bằng 75% so với mức giá tối đa. Việc điều chỉnh giá nước tại Sơn La không phải là việc đột biến, khi mà thông lệ ở nhiều tỉnh thành cũng như sự biến động của giá điện, giá xăng dầu trên thế giới thường xuyên diễn ra hàng ngày, hàng tháng, nên việc điều chỉnh giá nước hàng năm là vấn đề không phải bàn cãi.

Giá nước cần tính đúng tính đủ

Theo một chuyên gia trong ngành Xây dựng, việc tính đúng, tính đủ các khoản mục cấu thành lên giá nước không những phù hợp với thực tế mà còn phù hợp với quy định hiện hành để đảm bảo duy trì bộ máy hoạt động của ngành nước và đội ngũ cán bộ công nhân viên: Lương, bảo hiểm, khấu hao tài sản, sửa chữa tài sản, cũng như các chi phí khác: Trả lãi vốn vay ODA, thuế tài nguyên nước, chi phí dịch vụ bảo vệ môi trường…

Tại nhiều tỉnh thành khác, giá nước đều được điều chỉnh hàng năm khi giá các yếu tố cấu thành lên giá nước điều chỉnh. Bên cạnh đó, giá nước ở mỗi tỉnh thành là khác nhau khi điều kiện sản xuất của mỗi tỉnh thành là khác nhau. Mặc dù Sơn La là địa bàn có nguồn nước tự nhiên dồi dào nhưng điều kiện sản xuất lại gặp nhiều khó khăn vì địa hình chia cắt phức tạp, việc bơm nước phải qua nhiều cấp trung chuyển, phải sử dụng tăng áp, dẫn đến tăng chi phí sản xuất, đặc biệt là khi giá điện tăng.

Giám đốc một Xí nghiệp cấp nước thuộc Cty CP Cấp nước Sơn La cho biết, từ nguồn nước bản Bó Cá (TP Sơn La) phải bơm ba cấp về trạm Huổi Hin, bơm tiếp về trạm Chiềng Ngần, rồi mới cấp đến người dân. Ở trạm bơm Nậm La, nước phải bơm vượt núi, với độ chênh cao 112m để cấp cho khu vực P.Quyết Tâm, Chiềng Sinh và khu vực trường Đảng của tỉnh.

Theo Sở Tài chính Sơn La, 3 năm gần đây (2014 – 2016), giá nước sạch tỉnh Sơn La tăng trung bình từ 500 – 1.000 đ/m3/năm, chủ yếu do mức lương tối thiểu vùng và giá điện tăng nên giá nước cũng phải tăng theo. Cụ thể, năm 2014, giá điện tăng từ 1.339 đ/KW lên 1.388 đ/KW, mức điều chỉnh lương tối thiểu vùng tăng từ 1,8 triệu đ/tháng lên 2,1 triệu đ/tháng. Năm 2015, giá điện tiếp tục tăng từ 1.388 đ/KW lên 1.518 đ/KW, lương tối thiểu vùng tăng từ 2,1 triệu đ/tháng lên 2,4 triệu đ/tháng.

Năm 2016, giá nước được điều chỉnh tăng do yếu tố duy nhất là vì cơ chế chính sách, tăng 700 đ/m3. Tuy nhiên, giá nước vẫn thuộc khả năng chi trả của các hộ dân. Sau khi điều chỉnh giá nước, hộ khách hàng có mức tiêu thụ nước sạch trung bình hàng tháng từ 18 – 20m3/tháng sẽ phải trả thêm số tiền từ 12 – 14 nghìn đ/tháng.

Khung giá nước sạch trên địa bàn tỉnh Sơn La từ 01/7/2016.

Tại tỉnh Sơn La, để thực hiện công tác xã hội, hỗ trợ cho các nhóm khách hàng có thu nhập thấp, UBND tỉnh và các ngành chức năng thống nhất phương án không tính giá nước theo bậc thang mà tính theo 3 vùng với 6 mức giá. Phương pháp tính này cũng phù hợp với quy định hiện hành. Theo đó, vùng 1 có mức giá bằng 103% giá bình quân chung, gồm TP Sơn La và 4 huyện: Mai Sơn, Mộc Châu, Thuận Châu và Mường La. Vùng 2 có mức giá bằng 90% giá bình quân chung, gồm 5 huyện: Yên Châu, Phú Yên, Sông Mã, Quỳnh Nhai, Sốp Cộp. Vùng 3 chỉ có địa bàn duy nhất là huyện Bắc Yên, có mức giá bằng 70% giá bình quân chung.

Các đối tượng khách hàng cư trú ở vùng ven, mặc dù chi phí sản xuất lớn hơn do phải truyền tải nước đi xa, nhưng do khả năng chi trả của các đối tượng này thấp, thu nhập của người dân chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, nên tỉnh Sơn La chỉ tính bằng 70% mức giá nội vùng. Quy định này để tạo điều kiện cho người dân ở xa nội thị được quyền tiếp cận với nước sạch.

Thanh Nga